Nguyên nhân
- Virus gây bệnh Newcastle (NDV) là một thành viên của họ Paramyxoviridae trong chi Avulavirus. Có mười nhóm huyết thanh của Paramyxovirus gia cầm được xác định từ APMV-I đến APMV-10 và virus Newcastle Disease thuộc nhóm APMV-1. NDV cũng được phân loại thành năm thể bệnh dựa trên các dấu hiệu lâm sàng ở gà bị nhiễm bệnh bao gồm: a) viscerotropic velogenic, b) neurotropic velogenic, c) mesogenic, d) lentogenic hoặc hô hấp và e) asymptomatic (WOAH, 2024). các chủng viscerotropic hoặc neurotropic velogenic gây ra các tổn thương đường ruột nghiêm trọng hoặc bệnh thần kinh, dẫn đến tỷ lệ tử vong cao (lên đến 100% ở gà) (Alexander et al., 2012). Nó có phạm vi vật chủ rộng, lây nhiễm cho 27 trong số 50 bộ chim (Alexander, 2000; Schelling et al., 1999). Velogenic NDV là loại virus đặc hữu ở các khu vực của Mexico, Trung và Nam Mỹ, lây lan rộng rãi ở Châu Á, Trung Đông và Châu Phi, và ở loài chim cốc hoang dã ở Hoa Kỳ và Canada. Các chủng NDV thể lentogenic phân bố trên toàn thế giới trong khi các kiểu bệnh mesogenic lan rộng nhờ khả năng thích nghi đặc biệt. Paramyxovirus ở chim bồ câu dường như không dễ dàng lây nhiễm cho các loài gia cầm khác (WOAH, 2024).
- NDV bị bất hoạt ở nhiệt độ: ở 56°C trong 3 giờ hoặc 60°C trong 30 phút; pH: Bị bất hoạt bởi pH axit ≤ 2; Hóa chất/Chất khử trùng: Nhạy cảm với ete; bị bất hoạt bởi formalin, phenol và chất oxy hóa Virkon®); chlorhexidine, natri hypoclorit (6%); Có thể tồn tại trong thời gian dài ở nhiệt độ môi trường, đặc biệt là trong phân (WOAH, 2024).
Dịch tễ
Vật chủ
Nó có phạm vi vật chủ rộng, lây nhiễm cho 27 trong số 50 bộ chim kể cả các loài được nuôi và hoang dã (Alexander, 2000; Schelling et al., 1999). Virus này lây truyền qua đường tiêu hóa hoặc hít phải và gây ra bệnh có mức độ nghiêm trọng và khả năng lây truyền lâm sàng khác nhau tùy thuộc vào kiểu bệnh của nó. Gà rất dễ nhạy cảm với virus, gà tây có xu hướng không phát triển các dấu hiệu nghiêm trọng; Các loài chim như trĩ, gà gô, chim cút và vẹt có mức độ biểu hiện rất khác nhau; Chim hoang dã và chim nước có thể mang virus cận lâm sàng; Các loài chim ăn thịt thường có khả năng kháng bệnh ND ngoại trừ các báo cáo về bệnh cấp tính ở kền kền râu (
Gypaetus barbatus), đại bàng biển đuôi trắng (
Haliaeetus albicilla), một loài diều hâu hoang dã (
Pandion haliaetus) và một số loài chim ưng. Con người có thể bị nhiễm NDV với biểu hiện thường là tình trạng đỏ mắt một bên hoặc hai bên, chảy nước mắt quá nhiều, phù mí mắt, viêm kết mạc và xuất huyết dưới kết
mạc (WOAH, 2024).
Lây truyền
- Virus bệnh Newcastle rất dễ lây lan qua phân bị nhiễm bệnh và dịch tiết đường hô hấp giữa các loài gia cầm. Lây lan giữa các trang trại là do thiết bị, xe tải, nhân viên, chim hoang dã hoặc không khí bị nhiễm bệnh. Thời gian ủ bệnh thay đổi nhưng thường là khoảng 3 đến 6 ngày (Schelling et al., 1999).
- Vật chủ truyền lây: thức ăn, nước, dụng cụ, cơ sở, quần áo của con người, giày, bao tải, khay/thùng đựng trứng, v.v. Sự sống sót của tác nhân được kéo dài nhờ sự hiện diện của phân; như trong vỏ trứng bị bẩn. Gà con mới nở có thể bị nhiễm qua trứng đối với một số chủng NDV. Chưa có bằng chứng rõ ràng về vai trò của ruồi trong truyền lây cơ học (WOAH, 2024).
Chẩn đoán
Thời gian ủ bệnh là 2 – 15 ngày với trung bình là 5 – 6 ngày. Ở một số loài có thể kéo dài hơn 20 ngày. Theo Bộ luật Sức khỏe Động vật trên cạn OIE, thời gian ủ bệnh của ND là 21 ngày (WOAH, 2024).
Dấu hiệu lâm sàng
- Các dấu hiệu lâm sàng thấy ở chim bị nhiễm NDV rất khác nhau và phụ thuộc vào các yếu tố như: virus/kiểu bệnh, loài vật chủ, độ tuổi của vật chủ, đồng nhiễm với các mầm bệnh khác, căng thẳng về môi trường và tình trạng miễn dịch. Chỉ riêng các dấu hiệu lâm sàng không phải là cơ sở đáng tin cậy để chẩn đoán ND. Tỷ lệ mắc bệnh và tử vong phụ thuộc vào độc lực của chủng virus, mức độ miễn dịch vắc-xin, điều kiện môi trường và tình trạng sức khỏe của đàn.

Hình 1: Các dấu hiệu lâm sàng thần kinh của bệnh Newcastle ở gà (a) Liệt; (b) cổ bị xoắn (Ashraf et al., 2018)

Hình 2: Các dấu hiệu lâm sàng của bệnh Newcastle ở gà do nhiễm trùng Velogenic (a) Trứng không đều (Piller, 2010); (b) xuất huyết bên trong và bên ngoài (Herenda và Chamber, 1994); (c) tiêu chảy phân lỏng màu xanh lá cây (Lucas và Jamroz, 1961); (d) tím tái mào (Ashraf et al., 2018)

(Cattoli et al., 2011)
- Hình 3: Đặc điểm lâm sàng và bệnh lý của virus gây bệnh Newcastle (NDV). Velogenic viscerotropic (VVNDV): (A) xuất huyết trong mảng lymphoid hình lưỡi liềm ở mí mắt dưới là đặc điểm sớm đặc trưng của NDV. (B) Xuất huyết khu trú và hoại tử amidan manh tràng xảy ra trong nhiễm trùng. (C) các ổ xuất huyết ở dạ dày tương ứng với hoại tử mô lymphoid bên dưới. (D) Lách loang lổ cho thấy hoại tử đa ổ. (E) chim thường sáng sủa và tỉnh táo nhưng bị liệt nửa người. (F) về mặt mô học, tổn thương não nổi bật ở ND velogenic neurotropic và bao gồm tăng sinh tế bào thần kinh đệm và tăng sinh tế bào hình sao lan rộng; tiểu não. (G) nhuộm miễn dịch mô học đối với nucleoprotein của virus cho thấy nhiều tế bào bị nhiễm trong lách; các tế bào có hình thái giống đại thực bào; 3 ngày sau khi nhiễm trùng. (H) lai in situ riboprobe cho gen ma trận cho thấy sự phong phú của các tế bào bị nhiễm trùng tương thích về mặt hình thái với đại thực bào; lớp niêm mạc, amidan manh tràng. (Cattoli et al., 2011)
- Các chủng gây bệnh cao (velogenic) của ND gây tử vong cao với tình trạng suy nhược và tử vong trong vòng 3 đến 5 ngày. Gà bị ảnh hưởng không phải lúc nào cũng biểu hiện các dấu hiệu về hô hấp hoặc thần kinh. Các chủng mesogenic gây ra các dấu hiệu điển hình của tình trạng suy hô hấp. Các dấu hiệu chính là khó thở kèm theo tiếng thở khò khè, kèm theo các dấu hiệu thần kinh, chẳng hạn như tê liệt hoặc vẹo cổ. Giảm sản lượng trứng từ 30 đến 50% trở lên, trở lại mức bình thường sau khoảng 2 – 3 tuần. Bên cạnh đó, chất lượng vỏ trứng cũng sẽ bị ảnh hưởng (mỏng, màu nhạt, lỏng lẻo). Ở đàn gà được tiêm phòng đầy đủ, các dấu hiệu lâm sàng có thể khó phát hiện (Swayne, 2020).
Tổn thương
Chỉ có các chủng velogenic mới gây ra các tổn thương đáng kể có thể gây sưng vùng quanh hốc mắt hoặc toàn bộ đầu phù nề mô kẽ hoặc mô quanh khí quản ở cổ; đặc biệt là ở cửa vào ngực sung huyết và đôi khi xuất huyết ở niêm mạc hầu và khí quản; khí quản và thực quản xuất huyết dưới da với các vết bầm tím nhỏ trên niêm mạc của dạ dày, tá tràng, tập trung xung quanh các lỗ của các tuyến nhầy. Có thể gây phù nề, xuất huyết, hoại tử hoặc loét mô bạch huyết hô hấp/tiêu hóa bao gồm cả amidan manh tràng và các mảng Peyer. Mặc dù không phải là đặc trưng của bệnh nhưng loét/hoại tử của các mảng Peyer gợi ý bệnh Newcastle. Ở gà đẻ có thể thấy xuất huyết hoặc thoái hóa buồng trứng mặc dù ít rõ ràng hơn ở những con gà già, xuất huyết ở tuyến ức và túi fabriceus có thể xảy ra, lá lách có thể to ra, dễ vỡ và có màu đỏ sẫm hoặc loang lổ, một số trường hợp có thể biểu hiện phù phổi và hoại tử tụy (Etriwati et al., 2017).

(Ferreira et al., 2019)
Hình 4: Các dấu hiệu lâm sàng và tổn thương lớn sau khi gây nhiễm các chủng NDV (A) Liệt ở một con gà được tiêm một liều trung bình virus CO10; (B) Xuất huyết đa ổ ở dạ dày của một con chim được tiêm một liều trung bình virus EG11; (C) Lách to với các đốm và hoại tử đa ổ ở một con chim được tiêm một liều cao virus CO10; (D) Thận sưng ở một con chim được tiêm một liều trung bình virus EG11; (E) Xung huyết và xuất huyết đa ổ nhẹ ở màng não của não sau khi tiêm một liều trung bình virus CO10 sau 8 ngày gây nhiễm.
Chẩn đoán phân biệt
Bệnh do NDV có những biểu hiệu bệnh rất dễ nhầm lẫn với các khác như bệnh dịch tả gia cầm, cúm gia cầm độc lực cao (AI), viêm thanh quản khí quản truyền nhiễm (ILT), bệnh do
Mycoplasma, viêm phế quản truyền nhiễm (IB), bệnh do nấm
Aspergillus. Cũng như các lỗi trong quản lý ví dụ như thiếu nước uống hoặc thiếu thức ăn, dinh dưỡng kém và thông gió kém (WOAH, 2024).
Chẩn đoán phòng thí nghiệm
Để có thể chẩn đoán chính xác và kịp thời bệnh do NDV có thể xác nhận bằng cách phân lập virus và định danh (mẫu từ tăm bông khí quản hoặc hậu môn), hoặc PCR hoặc HI hoặc ELISA trên mẫu huyết thanh. Lưu ý rằng việc tiêm chủng cũng gây ra phản ứng kháng thể tăng cao khi sử dụng phương pháp ELISA.
Điều trị
Không có phương pháp điều trị cụ thể nào cho ND; điều trị bằng kháng sinh đối với các bệnh nhiễm trùng thứ phát do vi khuẩn (ví dụ như E. coli) sẽ làm giảm tổn thất.
Phòng ngừa và kiểm soát
Tiêm chủng đã được chứng minh là phương pháp kiểm soát đáng tin cậy. Nhưng ND là một căn bệnh cần khai báo và ở nhiều quốc gia, việc kiểm soát dựa trên sự kết hợp giữa tiêm chủng bắt buộc và dập dịch trong trường hợp bùng phát. Một loạt các loại vắc-xin sống và bất hoạt được sử dụng trong các chương trình tiêm chủng để ngăn ngừa. ND là một căn bệnh được liệt kê trong Bộ luật Sức khỏe Động vật trên cạn của Tổ chức Thú y Thế giới (WOAH) và phải được báo cáo cho WOAH (Bộ luật Sức khỏe Động vật trên cạn của WOAH).
TÀI LIỆU THAM KHẢO
- Alexander, D. J. (2000). Newcastle disease in ostriches ( Struthio camelus )—A review. Avian Pathology, 29(2), 95–100. https://doi.org/10.1080/03079450094117
- Alexander, D. J., Aldous, E. W., & Fuller, C. M. (2012). The long view: A selective review of 40 years of Newcastle disease research. Avian Pathology, 41(4), 329–335. https://doi.org/10.1080/03079457.2012.697991
- Ashraf, A., Mahboob, S., Andleeb, R., Ijaz, M. U., & Shah, M. S. (2018). Status updates of Newcastle disease and amelioration effects of medicinal plants against Newcastle disease virus: A review. Acta Virologica, 62(01), 3–15. https://doi.org/10.4149/av_2018_101
- Cattoli, G., Susta, L., Terregino, C., & Brown, C. (2011). Newcastle disease: A review of field recognition and current methods of laboratory detection. Journal of Veterinary Diagnostic Investigation, 23(4), 637–656. https://doi.org/10.1177/1040638711407887
- Etriwati, null, Ratih, D., Handharyani, E., & Setiyaningsih, S. (2017). Pathology and immunohistochemistry study of Newcastle disease field case in chicken in Indonesia. Veterinary World, 10(9), 1066–1071. https://doi.org/10.14202/vetworld.2017.1066-1071
- Ferreira, H. L., Taylor, T. L., Dimitrov, K. M., Sabra, M., Afonso, C. L., & Suarez, D. L. (2019). Virulent Newcastle disease viruses from chicken origin are more pathogenic and transmissible to chickens than viruses normally maintained in wild birds. Veterinary Microbiology, 235, 25–34. https://doi.org/10.1016/j.vetmic.2019.06.004
- Schelling, E., Thur, B., Griot, C., & Audige, L. (1999). Epidemiological study of Newcastle disease in backyard poultry and wild bird populations in Switzerland. Avian Pathology, 28(3), 263–272. https://doi.org/10.1080/03079459994759
- Swayne, D. E. (2020). Diseases of poultry (14th edition). Wiley-Blackwell.
- (2024). Newcastle disease. https://www.woah.org/fileadmin/Home/eng/Animal_Health_in_the_World/docs/pdf/Disease_cards/NEWCASTLE_DISEASE.pdf