Nhiều doanh nghiệp tiếp tục tăng giá cám: Người nuôi gà chịu thêm bao nhiêu chi phí?

Giá gà công nghiệp vẫn ở vùng thấp trong khi nhiều doanh nghiệp thức ăn chăn nuôi tiếp tục điều chỉnh giá bán. Mức tăng phổ biến 200–300 đồng/kg thức ăn nghe không lớn, nhưng khi nhân với lượng cám tiêu thụ của cả đàn, chi phí có thể tăng thêm hàng chục triệu đồng mỗi lứa. Trong những tháng cuối năm 2026, bài toán của người nuôi không chỉ là giá cám còn tăng hay không, mà là giá gà có phục hồi đủ để bù phần chi phí đã tăng.

Giá cám tiếp tục được điều chỉnh trong tháng 9

Ngày 14/8, eFeedLink dẫn thông tin từ Bộ Nông nghiệp và Môi trường cho biết giá thức ăn chăn nuôi tại Việt Nam có thể tăng 3–5% trong những tháng cuối năm 2026. Bài viết cũng cho biết trước thời điểm đó, một số nhà sản xuất đã tăng giá 100–300 đồng/kg để bù chi phí đầu vào.

Đầu tháng 9, nhiều doanh nghiệp tiếp tục thông báo điều chỉnh giá. Theo Chăn nuôi Việt Nam, mức tăng phổ biến khoảng 200 đồng/kg, một số dòng sản phẩm cao hơn; tùy doanh nghiệp, đây đã là lần tăng thứ sáu trong năm 2026.

Với thức ăn gia cầm, Cargill tăng 200 đồng/kg đối với phần lớn thức ăn hỗn hợp gia súc, gia cầm và 280 đồng/kg đối với thức ăn đậm đặc heo, gia cầm. De Heus tăng 200 đồng/kg đối với nhiều sản phẩm gia súc, gia cầm. ADM tăng 200 đồng/kg đối với phần lớn thức ăn gia cầm và 300 đồng/kg đối với thức ăn đậm đặc gà. RICO Đồng Nai cũng tăng 200 đồng/kg đối với thức ăn hỗn hợp và đậm đặc gia súc, gia cầm từ ngày 8/9, tương đương khoảng 8.000 đồng/bao 40 kg.

Những đợt điều chỉnh này cho thấy áp lực chi phí được nhắc đến từ tháng 8 đã bắt đầu phản ánh rõ hơn vào giá thức ăn thành phẩm. Tuy nhiên, dự báo tăng 3–5% không nên được hiểu là giá cám chắc chắn sẽ tăng thêm 3–5% từ cuối tháng 9 đến cuối năm.

Phụ thuộc nguyên liệu nhập khẩu vẫn là điểm nhạy cảm

Theo eFeedLink, Việt Nam sản xuất khoảng 20 triệu tấn thức ăn chăn nuôi công nghiệp mỗi năm, trong khi nguồn cung nguyên liệu trong nước chỉ đáp ứng khoảng 35% nhu cầu. Hơn 65% nguyên liệu thức ăn và trên 90% vitamin, axit amin, khoáng chất và phụ gia phải nhập khẩu.

Trong 6 tháng đầu năm 2026, kim ngạch nhập khẩu thức ăn chăn nuôi và nguyên liệu đạt khoảng 2,2 tỷ USD, giảm 5,6% so với cùng kỳ. Hoa Kỳ chiếm 21,1%, Argentina 18,1% và Trung Quốc 12,8% giá trị nhập khẩu.

Giá trị nhập khẩu giảm không đồng nghĩa chi phí sản xuất thức ăn chắc chắn giảm. Giá nguyên liệu quốc tế, tỷ giá, cước vận chuyển, bảo hiểm, chính sách thương mại và rủi ro địa chính trị đều có thể làm thay đổi giá nguyên liệu khi về đến nhà máy tại Việt Nam.

Nguyên liệu chưa cho thấy một xu hướng tăng đồng loạt

Điểm cần lưu ý là thị trường nguyên liệu hiện không vận động theo một chiều. Một cập nhật thị trường công bố ngày 23/9 ghi nhận đậu tương kỳ hạn tháng 11 tăng 1,9% lên 488 USD/tấn và khô đậu tương kỳ hạn tháng 12 tăng 2,7% lên 406,1 USD/tấn.

Cùng nguồn cập nhật ngày 23/9, khô đậu tương giao ngay dạng xá được ghi nhận khoảng 15.500 đồng/kg tại Cái Lân và 13.400 đồng/kg tại Vũng Tàu. Đây là mức giá tại một thời điểm, chịu ảnh hưởng của nguồn cung cục bộ, cước vận tải và tỷ giá; không nên dùng riêng hai mức giá này để suy ra xu hướng cho cả quý IV.

Vì vậy, thay vì khẳng định nguyên liệu sẽ tiếp tục tăng, phù hợp hơn là xem rủi ro chi phí đầu vào vẫn ở mức cao và cần theo dõi đồng thời giá quốc tế, tỷ giá, logistics và giá giao thực tế tại cảng Việt Nam.

Giá gà chưa tạo được khoảng đệm lớn

Trong bài ngày 14/8, eFeedLink ghi nhận giá gà thịt khoảng 30.000–35.000 đồng/kg, giảm 35–40% so với đầu năm; gà thả vườn khoảng 40.000–50.000 đồng/kg. Giá trứng khoảng 2.000–2.200 đồng/quả và được nguồn này cho biết thấp hơn chi phí sản xuất khoảng 400–600 đồng/quả.

Người nuôi vì vậy chịu sức ép từ hai phía: giá thức ăn phản ánh chi phí nguyên liệu và sản xuất của nhà máy, còn giá gà hơi phụ thuộc mạnh vào cung – cầu. Hai thị trường không nhất thiết tăng giảm cùng nhau.

Mỗi 200 đồng/kg cám có ý nghĩa gì?

Để hình dung tác động, có thể dùng một kịch bản đơn giản. Giả sử FCR toàn kỳ khoảng 1,6 kg thức ăn/kg tăng trọng và tạm bỏ qua ảnh hưởng của khối lượng gà con đầu vào cùng các yếu tố khác. Khi giá thức ăn tăng 200 đồng/kg, chi phí thức ăn tăng khoảng 320 đồng cho mỗi kg tăng trọng tạo ra. Nếu giá cám tăng 300 đồng/kg, mức tăng tương ứng khoảng 480 đồng.

Ở quy mô sản xuất, tác động trở nên rõ hơn. Với giả định trên, 100 tấn khối lượng tăng trọng tương ứng khoảng 160 tấn thức ăn. Khi giá cám tăng 200 đồng/kg, phần chi phí tăng thêm khoảng 32 triệu đồng; nếu tăng 300 đồng/kg, khoảng 48 triệu đồng. Với 500 tấn khối lượng tăng trọng, con số minh họa tương ứng khoảng 160–240 triệu đồng.

Kịch bản

Tác động ở FCR 1,6

Quy mô 100 tấn tăng trọng

Cám +200 đ/kg

+320 đ/kg tăng trọng

+32 triệu đồng

Cám +300 đ/kg

+480 đ/kg tăng trọng

+48 triệu đồng

 

FCR trở thành biến số kinh tế quan trọng

Cùng một mức tăng giá cám, đàn có FCR cao sẽ chịu tác động lớn hơn. Với mức tăng 300 đồng/kg thức ăn, FCR 1,5 tương ứng khoảng 450 đồng chi phí tăng thêm cho mỗi kg tăng trọng; ở FCR 1,7, con số khoảng 510 đồng.

Nhưng tác động lớn hơn của FCR không nằm ở riêng phần giá cám vừa tăng. FCR xấu làm tăng lượng thức ăn sử dụng trên toàn bộ giá thức ăn hiện hành. Vì vậy, khi biên lợi nhuận thấp, kiểm soát FCR, tỷ lệ chết loại, độ đồng đều và thời gian nuôi có thể quan trọng hơn việc chỉ nhìn vào vài trăm đồng tăng thêm trên mỗi kg cám.

Không thể cắt chi phí bằng mọi giá

Người nuôi khó chuyển toàn bộ phần chi phí tăng sang giá bán vì giá gà hơi phụ thuộc vào cung – cầu tại thời điểm xuất chuồng. Giữ gà lâu để chờ giá cũng phát sinh thêm thức ăn, điện, nhân công và có thể làm FCR xấu đi.

Trong khi đó, các khoản cho vaccine, phòng bệnh, an toàn sinh học, thông gió, chất lượng nước hay xử lý chất thải không thể tùy tiện cắt giảm. Tiết kiệm sai chỗ có thể làm giảm năng suất, tăng tỷ lệ chết hoặc làm FCR xấu hơn, khiến chi phí cuối cùng còn cao hơn.

Với người nuôi gà, bài toán cần nhìn đồng thời ít nhất bốn biến số: giá gà, giá thức ăn, FCR và tỷ lệ hao hụt. Chỉ một hoặc hai biến số xấu đi cùng lúc cũng có thể làm biên lợi nhuận thay đổi đáng kể.

Những tháng cuối năm: theo dõi khoảng cách giữa giá gà và giá cám

Rủi ro chi phí thức ăn trong những tháng cuối năm vẫn hiện hữu do Việt Nam phụ thuộc lớn vào nguyên liệu nhập khẩu. Tuy vậy, dữ liệu hiện có chưa đủ để khẳng định giá cám sẽ tăng liên tục hoặc chắc chắn tăng thêm 3–5% từ cuối tháng 9.

Điều cần theo dõi sát hơn là ba tín hiệu: giá ngô và khô đậu tương giao thực tế tại Việt Nam, các đợt điều chỉnh giá thức ăn thành phẩm của doanh nghiệp và giá gà hơi tại trại.

Nếu giá cám tăng nhưng giá gà phục hồi tương ứng, áp lực có thể được hấp thụ một phần. Ngược lại, nếu giá gà tiếp tục ở vùng thấp trong khi thức ăn và các chi phí khác cùng tăng, những trại có FCR cao hoặc năng suất thấp sẽ chịu sức ép trước tiên.

Trong bối cảnh người nuôi khó quyết định giá cám và cũng không hoàn toàn quyết định được giá bán, hiệu quả chuyển đổi thức ăn và kiểm soát sức khỏe đàn vẫn là những biến số có thể chủ động nhất. Chỉ 200 đồng tăng thêm trên mỗi kg thức ăn, với giả định FCR 1,6, đã tương ứng khoảng 32 triệu đồng trên 100 tấn khối lượng tăng trọng. Khi biên lợi nhuận mỏng, những cải thiện nhỏ về hiệu quả sản xuất có thể tạo ra khác biệt đáng kể.

Nguồn tham khảo

  • eFeedLink, 14/08/2026: “Vietnam feed prices set to rise 3% to 5% as import reliance exceeds 65% of raw materials” (toàn văn do người dùng cung cấp).
  • Chăn nuôi Việt Nam, 08/09/2026: thông tin nhiều doanh nghiệp thức ăn chăn nuôi điều chỉnh tăng giá trong tháng 9/2026.
  • Người Chăn Nuôi, tháng 09/2026: thông tin điều chỉnh giá thức ăn chăn nuôi từ tháng 9.
  • Doanh nghiệp & Hội nhập, 23/09/2026: cập nhật diễn biến đậu tương/khô đậu tương và giá giao ngay tại Cái Lân, Vũng Tàu; sử dụng thận trọng do bài nguồn có một chi tiết ngày giao dịch không nhất quán với ngày công bố.

Để lại một bình luận